
Tạp chí Y dược lâm sàng 108 (Tập 14-số đặc biệt 9/2019)
TÓM TẮT
Mục tiêu: So sánh nguồn kinh phí bảo đảm thuốc trước và sau khi thay đổi nguồn bảo đảm tài chính, Cơ cấu chi phí sử dụng thuốc trước và sau khi thay đổi nguồn bảo đảm tài chính. Đối tượng và phương pháp: Số liệu báo cáo công tác dược của đối tượng quân nhân khám và điều trị tại bệnh viện Quân y 121 từ 01/01/2016 đến 30/06/2018. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu mô tả, kết hợp tiến cứu và hồi cứu. Kết quả và kết luận: Quá trình thay đổi phương thức cung cấp tài chính từ ngân sách của Bộ Quốc phòng sang quỹ Bảo hiểm y tế đã chứng minh rõ ràng những lợi thế trong chăm sóc sức khỏe của quân nhân thể hiện qua việc tăng nguồn quỹ, chi phí thuốc, số lượng bệnh nhân khám và cơ cấu trong sử dụng thuốc đã sử dụng qua năm.
Từ khóa: Kinh phí thuốc, cơ cấu trong sử dụng thuốc, quỹ bảo hiểm y tế.
SUMMARY
Objective: Compare medicine warranty before and after change supply finance; Structure in used medicine before and after change supply finance. Subject and method: Data reports in used medicine and used medicine warranty in the treatment for soldier examined and treated at Military Hospital 121 in the period from January 2016 to June 2018. Methods: Descriptions, combined prospective study and retrospective study. Results and conclusions: In the process of change supply finance from the Ministry of Defense budget to the health insurance fund, it clearly demonstrated the advantages in military's health care by the increasing of the medicine fund, the drug costs, number of examined patient and structure in used medicine over the years.
Key word: medicine warranty, structure in used medicine, the health insurance fund.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm y tế (BHYT) cho thấy từ lâu BHYT đã có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, dần trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống chính sách an sinh xã hội. BHYT được coi là một cơ chế tài chính y tế hiệu quả trong vấn đề quản lý chi tiêu y tế, là công cụ chủ yếu nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách y tế.
Bệnh viện Quân y 121 với vai trò chăm sóc sức khỏe cho nhiều đối tượng, trong đó đặc biệt là đối tượng quân nhân tại ngũ. Từ sau nghị định số 70/2015/NĐ-CP của Chính phủ, đã có sự thay đổi dần về phương thức thực hiện và nguồn bảo đảm tài chính trong vấn đề đảm bảo kinh phí điều trị cho đối tượng chính sách theo hướng BHYT toàn quân.
BHYT quân nhân thể hiện tính ưu việt của chính sách, theo đó, quyền và lợi ích trong chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh (KCB) của quân nhân được bảo đảm, từng bước nâng cao.
Nhận thấy sự cần thiết của việc phân tích sự khác nhau trong việc đảm bảo kinh phí thuốc qua các năm, từ đó chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá tình hình kinh phí bảo đảm thuốc trong điều trị cho đối tượng quân nhân trong giai đoạn từ 1/2016 đến 6/2018 tại Bệnh viện quân y 121” với 2 mục tiêu sau:
1. So sánh nguồn kinh phí bảo đảm thuốc trước và sau khi thay đổi nguồn bảo đảm tài chính
2. Cơ cấu chi phí sử dụng thuốc trước và sau khi thay đổi nguồn bảo đảm tài chính
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng
- Số liệu báo cáo công tác dược của đối tượng:
Năm 2016: Quân nhân khám và điều trị tại bệnh viện Quân y 121
Năm 2017: Quân nhân có thẻ BHYT và Quân nhân không thẻ BHYT khám và điều trị tại bệnh viện Quân y 121
Năm 2018: Quân nhân khám và điều trị tại bệnh viện Quân y 121 (có thẻ BHYT 100%)
- Số liệu thông báo kinh phí quân y và bổ sung kinh phí quân y năm 2016, 2017.
2.2. Phương pháp
2.2.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ 01/01/2016 đến 0/6/2018.
Năm 2016: thu thập số liệu 12 tháng trong năm.
Năm 2017: do bệnh viện chuyển đổi phần mềm sử dụng vào tháng 12 nên thu thập số liệu trong 11 tháng (từ tháng 1 đến tháng 11).
Năm 2018: thu thập số liệu 6 tháng đầu năm.
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Dược Bệnh viện Quân y 121.
2.2.2. Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu mô tả, kết hợp tiến cứu và hồi cứu.
Nội dung nghiên cứu: So sánh các số liệu qua các năm trong công tác bảo đảm khám và điều trị quân nhân tại bệnh viện Quân y 121 như sau:
So sánh kinh phí đảm bảo thuốc.
So sánh các chỉ số: số lượt khám bệnh ngoại trú, trung bình tiền thuốc 1 đơn thuốc ngoại trú, trung bình tiền thuốc 1 ngày điều trị ngoại trú, trung bình tiền thuốc trên 1 giường điều trị nội trú.
So sánh chi phí sử dụng thuốc thuốc trong điều trị nội trú, ngoại trú.
So sánh cơ cấu sử dụng chi phí thuốc phân theo các nhóm thuốc: kháng sinh, tim mạch, tiểu đường, cơ xương khớp, vitamin và khoáng chất.
2.2.3. Thu thập và xử lý số liệu
- Thu thập số liệu
Hồi cứu các báo cáo Công tác dược hàng tháng trong năm 2016 và 2017, lọc ra những thông tin cần lấy.
Thu thập thông tin về nguồn đảm bảo kinh phí thuốc thông qua Thông báo kinh phí quân y và Thông báo bổ sung kinh phí quân y năm 2016 và 2017.
Theo dõi, cập nhật thêm các thông tin cần thiết trong các báo cáo Công tác dược 6 tháng đầu năm 2018.
Tổng hợp thông tin, xử lý số liệu, viết báo cáo.
- Xử lý số liệu: nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS, trình bày kết quả bằng các bảng, biểu đồ
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Tình hình cung ứng nguồn kinh phí thuốc qua các năm
- Nguồn kinh phí bảo đảm thuốc qua các năm
- So sánh giữa các năm 2016, 2017 và 6 tháng đầu năm 2018 nhằm đánh giá ưu nhược điểm của phương thức đảm bảo thuốc từ nguồn Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng (BHXH BQP).
2.3.2. Cơ cấu sử dụng chi phí đảm bảo thuốc qua các năm
- Chi phí thuốc phân theo nội trú, ngoại trú
- Cơ cấu nguồn kinh phí bảo đảm thuốc qua các năm
- Chi phí thuốc phân theo các nhóm thuốc: kháng sinh, tim mạch, tiểu đường, cơ xương khớp, vitamin và khoáng chất.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Tình hình nguồn kinh phí cung ứng thuốc qua các năm
Bảng 3.1. Nguồn kinh phí đã sử dụng để mua thuốc qua các năm
Đơn vị tính: VNĐ
|
Năm Nguồn kinh phí |
2016 (12 tháng) |
2017 (11 tháng) |
2018 (6 tháng) |
|
Nguồn ngân sách BQP |
3.441.590.637 |
206.608.104 |
87.951.211 |
|
BHXH Bộ Quốc phòng |
4.748.819.917 |
2.809.904.348 |
|
|
TB năm (tính trên 12 tháng) |
3.441.590.637 |
5.405.921.477 |
5.795.711.118 |
|
TB tháng |
286.799.220 |
450.493.456 |
482.975.927 |
Số liệu được thu thập trong khoảng thời gian nghiên cứu từ 01/01/2016 đến 30/6/2018, riêng năm 2017 bệnh viện chuyển đổi phần mềm quản lý vào tháng 12 không lấy được số liệu nên năm 2017 chỉ thu thập số liệu 11 tháng.
Trong năm 2016, kinh phí mua thuốc được đảm bảo 100% từ nguồn ngân sách BQP (hơn 3 tỷ 441 triệu, trung bình mỗi tháng là gần 287 triệu). Năm 2017, kinh phí mua thuốc từ ngân sách BQP chiếm gần 4,2% (hơn 206 triệu), phần còn lại từ nguồn BHXH BQP (gần 4 tỷ 749 triệu, trung bình một tháng xấp xỉ 450,5 triệu). Năm 2018, mặc dù theo lộ trình, 100% quân nhân KCB theo hình thức thẻ BHYT, tuy nhiên vẫn có một phần thuốc được lấy từ nguồn ngân sách BQP nhằm đáp ứng cho nhu cầu KCB của một bộ phận quân nhân chưa có thẻ đang đóng trên địa bàn, chiếm hơn 3% (gần 88 triệu trong 6 tháng đầu), 97% còn lại được đảm bảo từ nguồn BHXH BQP thông qua hình thức KCB BHYT (gần 2 tỷ 810 triệu trong 6 tháng đầu, trung bình một tháng xấp xỉ 483 triệu).
Từ bảng 3.1 ta thấy nguồn kinh phí về thuốc phục vụ cho đối tượng quân nhân có sự chuyển dịch tăng trưởng sau khi thay đổi cơ cấu nguồn kinh phí đảm bảo. Cụ thể là tổng kinh phí đã sử dụng để mua thuốc tăng 2017 tăng hơn 1,5 lần so với năm 2016, năm 2018 tăng gần 1,07 lần so với năm 2017. Từ đó, nguồn kinh phí thuốc tăng sẽ giúp việc cung ứng thuốc cho đối tượng quân nhân được tốt hơn, trước mắt có thể cho ta thấy những ưu điểm cơ bản của phương thức KCB BHYT.
Bảng 3.2. Nguồn kinh phí đã sử dụng để mua thuốc 6 tháng đầu mỗi năm
|
Xét 6 tháng đầu mỗi năm |
2016 |
2017 |
2018 |
|
Tổng kinh phí mua thuốc |
1.822.130.736 |
2.029.793.054 |
2.897.855.559 |
|
TB tháng |
303.688.456 |
338.298.842 |
482.975.927 |
Ngoài ra, chúng tôi khảo sát thêm số liệu chỉ xét trong 6 tháng đầu của mỗi năm, nhằm có một sự nhận xét khách quan hơn, tránh gây nhiễu do số ngày nghỉ nhiều ở 6 tháng đầu, ta thấy kinh phí sử dụng thuốc mỗi tháng có sự tăng rõ rệt, cụ thể: so với trung bình hàng tháng của 6 tháng đầu năm 2016 thì năm 2017 trung bình một tháng tăng 35 triệu, năm 2018 trung bình một tháng tăng 177 triệu.
3.2. Cơ cấu chi phí thuốc
3.2.1. Cơ cấu chi phí thuốc sử dụng cho bệnh nhân nội, ngoại trú
Bảng 3.3. Cơ cấu chi phí thuốc sử dụng cho bệnh nhân nội trú, ngoại trú
|
Nội trú |
Ngoại trú |
||||
|
VNĐ |
% |
VNĐ |
% |
||
|
2016 (12 tháng) |
1.726.568.592 |
50,17 |
1.715.022.045 |
49,83 |
|
|
2017 (11 tháng) |
2.531.357.087 |
51,08 |
2.424.070.934 |
48,92 |
|
|
2018 (06 tháng) |
1.129.158.993 |
38,97 |
1.768.696.566 |
61,03 |
|
|
TB tháng trong 6 tháng đầu năm |
2016 |
153.535.288 |
150.153.167 |
||
|
2017 |
168.715.853 |
169.582.989 |
|||
|
2018 |
188.193.165 |
294.782.761 |
|||
Do đặc thù bệnh viện Quân y 121 là bệnh viện tuyến cuối của quân khu, tỷ lệ bệnh nhân từ các đơn vị tuyến dưới chuyển về lớn, chủ yếu là bệnh nhân nặng do đó chi phí thuốc BHYT nội trú cao. Cơ cấu ngoại trú và nội trú chênh lệch không nhiều, năm 2018, có sự tăng vọt trong chi phí thuốc điều trị ngoại trú bởi đây là năm 100% KCB theo hình thức BHYT theo lộ trình, một số lượng lớn thẻ BHYT mới được phát hành tại các đơn vị thuộc quân khu, từ đó tăng số lượng quân nhân đến KCB ngoại trú từ các đơn vị như hải quân, không quân,... Đồng thời chi phí thuốc điều trị nội trú không tăng quá cao trong năm 2018 phù hợp với đánh giá của Cục Quân y, sức khỏe quân nhân tại ngũ (QNTN) ổn định, tỷ lệ quân số khỏe tăng 0,04%-0,1%; sức khỏe loại 1, loại 2 tăng 0,4%; tuyến bệnh viện quân y giảm cả 4 tiêu chí (khám bệnh, thu dung điều trị, tỷ lệ sử dụng giường và ngày nằm điều trị nội trú) [3]. Vì số liệu lấy được có sự khác nhau về thời gian lấy ở mỗi năm, dễ dẫn đến khó so sánh sự tăng trưởng nên chúng tôi tiến hành so sánh 6 tháng đầu mỗi năm. Từ bảng 3.3, ta có thể trong quá trình chuyển dịch phương thức đảm bảo thuốc trong KCB, chi phí thuốc trong điều trị nội trú, ngoại trú đều tăng. Cụ thể đối với chi phí thuốc trong điều trị nội trú trung bình mỗi tháng trong 6 tháng đầu năm của năm 2017 tăng hơn 15 triệu so với năm 2016, trong khi số liệu năm 2018 đã tăng xấp xỉ 19,5 triệu so với năm 2017 và gần 34,7 triệu so với năm 2016. Đối với chi phí thuốc điều trị ngoại trú, có một sự nhảy vọt trong số liệu, trung bình mỗi tháng trong 6 tháng đầu năm của 2018 tăng xấp xỉ 125,2 triệu so với năm 2017 và gần 144,7 triệu so với năm 2016. Việc thực hiện BHYT đối với QNTN còn góp phần nâng cao vị thế, uy tín các cơ sở KCB quân y trong chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân, thông qua năng lực chuyên môn, củng cố, nâng cấp trang thiết bị y tế, cơ sở hạ tầng phục vụ công tác KCB BHYT.
3.2.1.1. Điều trị ngoại trú
Bảng 3.4. Số lượt khám ngoại trú của đối tượng quân nhân
|
Năm |
Số lượt khám |
Trung bình tháng |
Mức tăng (%) |
|
Năm 2016 (12 tháng) |
11514 |
959,50 |
|
|
Năm 2017 (11 tháng) |
11029 |
1002,64 |
So với 2016: 4,50% |
|
Năm 2018 (6 tháng) |
6676 |
1112,67 |
So với 2017: 10,97% So với 2016: 15,96% |
Hình 3.1. Số lượt khám ngoại trú của đối tượng quân nhân
Hiện nay, bệnh viện Quân y 121 đã được trang bị hệ thống máy móc hiện đại thuộc các bệnh viện dẫn đầu trong công cuộc hiện đại hóa, bao gồm các máy móc giúp cho việc chẩn đoán như máy chụp CT, MRI dẫn đến tăng tỷ lệ bệnh nhân đến khám bệnh. Từ hình 3.1 cho thấy số lượng quân nhân đến khám chữa bệnh tại bệnh viện tăng hằng năm. Trung bình số lượt khám trong một tháng năm 2016 tại bệnh viện 121 là gần 960 lượt và năm 2017 là hơn 1000 lượt, tăng khoảng 4,5% so với năm 2016. Đến năm 2018, trung bình số lượt khám trong một tháng đã đến hơn 1112 lượt, tăng gần 11% so với 2017 và gần 16% so với so với năm 2016. Từ đó chứng tỏ ngoài tỷ lệ người mắc bệnh tăng trong những năm qua phù hợp với mô hình bệnh tật trên cả nước, còn có yếu tố thuận lợi trong việc KCB khi chuyển qua hình thức BHYT, danh mục thuốc phục vụ đối tượng quân nhân cũng đã được hoàn thiện đầy đủ hơn.
Hình 3.2. Trung bình tiền thuốc 1 đơn thuốc phòng khám ngoại trú
Dựa vào hình 3.2, ta có thể thấy khi có sự chuyển dịch nguồn kinh phí đảm bảo thuốc từ kinh phí Bộ Quốc phòng sang kinh phí BHXH BQP thì trung bình tiền thuốc của bệnh nhân ngoại trú tăng lên rõ rệt. Từ trung bình xấp xỉ 151 ngàn đồng/đơn thuốc năm 2016 lên gấp 1,5 lần năm 2017 (214 ngàn đồng) và 1,75 lần năm 2018 (264 ngàn đồng), sự chênh lệch này có ý nghĩa thống kê (p<0,001), điều đó cho thấy tình trạng cung ứng thuốc cho đối tượng quân nhân có sự cải thiện rõ rệt.
Hình 3.3. Trung bình đơn/ngày điều trị ngoại trú
Ngoài ra, để khẳng định sự nâng cao chất lượng khám bệnh, chúng tôi khảo sát thêm số liệu trung bình tiền thuốc tính theo ngày điều trị của bệnh nhân, nhằm có sự nhận xét khách quan, tránh gây nhiễu do số ngày dùng chênh lệch giữa các đơn (có đơn chỉ có 5 ngày dùng, có đơn bệnh mãn tính được kê 30 ngày). Trung bình tiền thuốc trên ngày cũng có sự tăng từ xấp xỉ 7 ngàn đồng năm 2016 lên hơn 9 ngàn năm 2017 và cuối cùng là gần 11 ngàn đồng năm 2018, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Từ các dữ kiện trên ta có thể thấy rõ công tác khám chữa bệnh cho bệnh nhân ngoại trú, đặc biệt là đối tượng quân nhân ngày càng được nâng cao, không những về số lượng mà cả về chất lượng, cho thấy tính đúng đắn của việc thay đổi nguồn bảo đảm kinh phí thuốc.
3.1.2.2. Trung bình tiền thuốc điều trị nội trú
Hình 3.4. Trung bình tiền thuốc/giường điều trị nội trú
Tình hình cung ứng thuốc cho quân nhân điều trị nội trú cũng có bước chuyển biến rõ rệt, trung bình tiền thuốc/giường tăng rõ rệt qua các tháng khi so sánh giữa các năm như chúng ta có thể theo dõi trên hình 3.4. Trung bình tiền thuốc/giường mỗi tháng từ hơn 2 triệu năm 2016 lên hơn 2,7 triệu năm 2017 và 2,8 triệu năm 2018, sự chênh lệch này có nghĩa thống kê (p<0,01). Mặc dù hiện nay, lượng bệnh nhân điều trị ở bệnh viện rất đông nhưng sự cung ứng thuốc cho đối tượng quân nhân vẫn luôn là ưu tiên hàng đầu, kết hợp việc thu chi dựa trên các nguyên tắc BHYT của BHXH Bộ Quốc phòng đã tạo nên những thuận lợi nhất định.
3.2.2. Cơ cấu giá trị sử dụng thuốc có tỷ lệ chi từ quỹ BHYT cao
Danh mục thuốc tại các cơ sở KCB được chia ra 27 nhóm thuốc theo Thông tư số 40/2014/TT-BYT Ban hành và hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT có hiệu lực này 01/01/2015. Theo kết quả phân tích cho thấy các nhóm thuốc: kháng sinh (KS), tim mạch (TM), tiểu đường (TĐ), tiêu hóa (TH), vitamin và khoáng chất (KC), là các nhóm thuốc có tỷ lệ chi từ quỹ BHYT cao.
Hình 3.5. Cơ cấu giá trị sử dụng thuốc theo các nhóm qua các năm
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ sử dụng kháng sinh (KS) cao, phản ánh vấn đề thực tế đang tồn tại ở các tuyến cơ sở KCB tại Việt Nam. Cần có một giải pháp hữu hiệu để kiểm soát và hạn chế lạm dụng thuốc, đặc biệt thuốc KS. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tình trạng lạm dụng thuốc và kê đơn bất hợp lý còn phổ biến, việc hướng dẫn sử dụng thuốc cho người bệnh và người nhà bệnh nhân còn rất hạn chế [4,7]. Người ta ước tính có đến 50% đơn thuốc kháng sinh có thể không cần thiết [5,6]. Theo kết quả nghiên cứu, trong tổng chi phí tiền thuốc, nhóm thuốc KS chiếm tỷ lệ lớn nhất xấp xỉ 1/4 tổng chi phí, khoảng 22% năm 2016 và hơn 27% năm 2017 và 2018. Số liệu tương tự nhau giữa 2 năm 2017 và 2018 cho thấy bệnh viện đã phần nào kiểm soát tốt việc sử dụng kháng sinh.
Bên cạnh nhóm thuốc KS có giá trị sử dụng cao nhất thì nhóm thuốc vitamin và khoáng chất và nhóm điều trị các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, tiểu đường, tiêu hóa cũng chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu giá trị sử dụng. Kết quả này cũng tương đồng với các nghiên cứu tại một số bệnh viện tuyến TW và tuyến tỉnh khác và nghiên cứu về giá trị thanh toán thuốc BHYT khi các nghiên cứu đều chỉ ra sự có mặt của các nhóm thuốc này trong số 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng nhiều nhất. Thực tế trên cho thấy tỷ lệ bệnh nhân mắc nhóm bệnh không lây nhiễm rất cao và ngày một gia tăng. Sự gia tăng số người mắc các bệnh này là nguyên nhân dẫn đến tăng số lượt KCB nội trú, ngoại trú cũng như tăng chi phí thuốc BHYT vì đây là các bệnh nặng, cần điều trị dài ngày, chi phí thuốc rất đắt đỏ. Nhìn chung giá trị sử dụng thuốc tim mạch dao động từ 24,15% chiếm hơn 839 triệu đồng năm 2016 giảm còn 11,40% chiếm hơn 716 triệu đồng năm 2017 và tăng lại 17,58% chiếm hơn 588 triệu chỉ trong 6 tháng đầu năm 2018.
Nhóm thuốc vitamin có xu hướng chung là giảm từ 5,27% năm 2016 xuống còn 2,51% năm 2018 cho thấy đã có sự kiểm soát chặt chẽ trong việc sử dụng vitamin và khoáng chất vì nhóm thuốc này có tác dụng hỗ trợ, chỉ thực sự dùng khi cần thiết, do đó chúng rất dễ bị lạm dụng, và sử dụng không hợp lý, không phù hợp với điều kiện thanh toán của quỹ BHYT.
4. KẾT LUẬN
4.1. Tình hình cung ứng nguồn kinh phí thuốc qua các năm
Nguồn kinh phí về thuốc phục vụ cho đối tượng quân nhân có sự chuyển dịch tăng trưởng sau khi thay đổi cơ cấu nguồn kinh phí đảm bảo. Qua đó cho thấy những ưu điểm cơ bản của phương thức KCB BHYT.
Kinh phí sử dụng thuốc mỗi tháng cũng có sự tăng rõ rệt được thể hiện qua so sánh trung bình hàng tháng của các năm.
4.2. Cơ cấu chi phí thuốc
Qua các năm cho thấy chi phí thuốc trong điều trị nội trú, ngoại trú đều tăng. Riêng trong năm 2018, có sự tăng vọt trong chi phí thuốc điều trị ngoại trú bởi đây là năm 100% KCB theo hình thức BHYT.
Đối với điều trị ngoại trú: Trung bình số lượt khám trong một tháng của các năm tại Bệnh viện quân y 121 đều có sự tăng trưởng theo năm, cho thấy công tác điều trị Bảo hiểm y tế tại Bệnh viện có sự phát triển liên tục và có hiệu quả. Trong đó, trung bình tiền thuốc theo toa và trung bình tiền thuốc trên ngày của các năm trong nghiên cứu cũng tăng lên và sự chênh lệch này có ý nghĩa thống kê (p<0,001).
Đối với điều trị nội trú: Trung bình tiền thuốc/giường của mỗi tháng cũng tăng lên có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,01).
Tỷ lệ các nhóm thuốc trong sử dụng tại Bệnh viện cho thấy nhóm thuốc KS chiếm tỷ lệ lớn nhất xấp xỉ 1/4 tổng chi phí. Số liệu tương tự nhau giữa 2 năm 2017 và 2018 cho thấy bệnh viện đã phần nào kiểm soát tốt việc sử dụng kháng sinh. Bên cạnh đó thì nhóm thuốc điều trị các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, tiểu đường, tiêu hóa và thuốc vitamin-khoáng chất cũng chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu giá trị sử dụng. Kết quả này cũng tương đồng với các nghiên cứu tại một số bệnh viện tuyến TW và tuyến tỉnh khác. Tuy nhiên trong đó nhóm thuốc vitamin-khoáng chất có xu hướng chung là giảm qua các năm cho thấy đã có sự kiểm soát chặt chẽ trong việc sử dụng thuốc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế (2016), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015, NXB Y học, Hà Nội.
2. Quốc hội (2014), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, 46/2014/QH13, Hà Nội.
3. Trần Minh Đức (2016), Nâng cao chất lượng quản lý thu Bảo hiểm y tế phục vụ cân đối quỹ khám chữa bệnh tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Quản lý kinh tế, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội.
4. Award A, Eltayeb L, Matowe L, Thalib L (2005), "Self-Medication with Antibiotics and Antimalarias in the Community of Khatoum State, Sudan", JPharm Pharmaceutical Sci, 8, 326-331
5. Centers for Disease Control and Prevention (CDC) (2011), Office-related antibiotic prescribing for persons aged ≤14 years - United States, 1993-1994 to 2007-2008, Morbidity and Mortality Weekly Report (MMWR), 60 (34), 1153-1156.
6. Pichichero ME (2002), Dynamics of antibiotic prescribing for children, JAMA, 23, 287.
7. Shah SN, et al (2001), A survey of prescription errors in general practice, Pharmaceutical Journal, 267, 860 – 862.
Nguyá»…n Doãn Anh, Nguyá»…n Thị Hữu Hiếu, Lâm Thị Ngá»c Hưá»ng - Khoa Dược