KỶ NIỆM 87 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI LHPNVN (20/10/1930 – 20/10/2017),
07 NĂM NGÀY PHỤ NỮ VIỆT NAM (20/10/2010- 20/10/2017)
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Trong hàng năm lịch sử ấy Phụ nữ Việt Nam luôn giữ một vai trò trọng yếu và hiển nhiên trong lịch sử dân tộc.
Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một dân tộc với nền văn minh nông nghiệp dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp, PNVN đã trở thành lực lượng lao động chính.
Đất nước ta biết bao lần bị kẻ thù xâm lược, đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Từ thực tế đó mà người Phụ nữ Việt Nam có bản sắc, phong cách riêng: Là những chiến sĩ chống ngoại xâm kiên cường dũng cảm; là những công dân lao động trí óc và lao động chân tay cần cù, sáng tạo, thông minh; là những người nghệ sĩ, bảo vệ, gìn giữ, phát triển bản sắc tinh hoa văn hóa dân tộc; là những người chủ gia đình dịu hiền, đảm đang, trung hậu, người sản sinh ra những thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng.
Nhưng dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột, chịu nhiều bất công nên luôn có yêu cầu được giải phóng và sẵn sàng đi theo cách mạng.
Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, phụ nữ đã tham gia đông đảo vào phong trào Cần Vương, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Đông Du… còn có nhiều phụ nữ nổi tiếng tham gia vào các tổ chức tiền thân của Đảng như: Chị Hoàng Thị Ái, chị Thái Thị Bôi, Tôn Thị Quế, Nguyễn Thị Minh Khai…
Vào những năm 1927 – 1930 những tổ chức quần chúng bắt đầu hình thành và thu hút đông đảo các tầng lớp như: Công Hội đỏ, Nông Hội đỏ, các nhóm tương tế, Tổ học nghề và các tổ chức có tính chất riêng của giới nữ: Phụ nữ phản đế, đồng minh Phụ nữ hiệp hội, Hội Phụ nữ giải phóng và hình thành nên nhiều nhóm phụ nữ.
Năm 1930 thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh, ở Nghệ An có hơn 6 ngàn chị tham gia Phụ nữ giải phóng, ở Hà Tĩnh 6.880 chị cùng nhân dân đấu tranh thành lập chính quyền Xô Viết ở trên 372 xã.
Ngày 01.5.1930 đ/c Nguyễn Thị Thập đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của hơn 4 ngàn nông dân ở 2 huyện Châu Thành và Mỹ Tho trong đó hàng ngàn phụ nữ tham gia.
Ngày 03.02.1930 Đảng cộng sản Đông Dương thành lập, trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi “Nam nữ bình quyền”.
Đảng sớm nhận rõ Phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ.
Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ, để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.
Chính vì vậy mà vào ngày 20/10/1930 Hội Phụ nữ chính thức được thành lập. Sự kiện lịch sử này nói lên quan điểm của Đảng ta đối với vai trò của Phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng DT.
Qua các thời kỳ cách mạng, Hội Phụ nữ mang những tên khác nhau cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng nhưng trước sau vẫn là tổ chức kiên trung của Hội liên hiệp PNVN:
- Hội Phụ nữ giải phóng 1930 – 1935
- Hội Phụ nữ Dân chủ 1936 – 1939
- Hội Phụ nữ phản đế 1939 – 1941
- Đoàn Phụ nữ cứu quốc 1941 – 1945
- Hội LH PNVN 20/10/1946
Tháng 6/1976 khi nước nhà thống nhất tại TP. Hồ Chí Minh Hội nghị thống nhất 2 tổ chức Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Hội Liên hiệp giải phóng miền Nam Việt Nam thành một tổ chức là Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, đồng thời giữ quyết định tại Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ 4 (1974) lấy ngày 20.10.1930 là ngày thành lập Hội LHPNVN.
Từ khi ra đời Hội luôn phát huy vai trò là tổ chức chính trị xã hội tập hợp rộng rãi các tầng lớp Phụ nữ Việt Nam là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là thành viên của Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế và liên đoàn các tổ chức Phụ nữ Asean Hội tham gia tích cực trong các hoạt động vì hòa bình, đoàn kết hữu nghị giữ các dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.
Hội có chức năng: Đại diện, bảo vệ quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước; Đoàn kết, tập hợp, tuyên truyền, giáo dục, vận động, tổ chức hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hội có nhiệm vụ: Tuyên truyền, vận động, giáo dục phụ nữ giữ gìn, phát huy phẩm chất đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và phụ nữ Việt Nam; tổ chức, tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao nhận thức, trình độ, năng lực về mọi mặt, tích cực thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; Tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ; tham mưu, đề xuất chính sách với Đảng, Nhà nước về công tác phụ nữ nhằm tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện bình đẳng và phát triển; tập hợp các tầng lợp phụ nữ, phát triển hội viên, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đa dạng các nguồn thu hợp pháp để xây dựng và phát triển quỹ Hội, hỗ trợ cho hoạt động của Hội; đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình.
Mục đích của Hội là hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của Phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của Phụ nữ.
Mọi hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội đoàn kết các tầng lớp Phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, tài năng, trí tuệ” góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trải qua 83 năm xây dựng và trưởng thành của mình trong từng thời điểm cụ thể, đáp ứng với yêu cầu cuộc cách mạng, các phong trào của Hội liên tiếp được phát động và thu hút đông đảo chị em Phụ nữ tham gia.
Các phong trào của TW Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, đã thực sự đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đáp ứng được sự mong đợi của PN cả nước và góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước.
Hội LHPN Việt Nam, các thế hệ phụ Nữ luôn tự hào về các đồng chí lãnh đạo của mình như Bà: Hoàng Thị Ai, Lê Thị Xuyến, Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Thị Định, Trương Mỹ Hoa… vì những đóng góp to lớn vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và phát triển đất nước cũng như vào phong trào PN ở Việt Nam.
Với những đóng góp của mình cho tiến trình cách mạng của dân tộc năm 2010 Đảng ta quyết định lấy ngày 20/10 hàng năm là ngày Phụ nữ Việt Nam
Phụ nữ trong LLVT đã đóng góp một phần không nhỏ của mình trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ngày10.3.1993 Ban Phụ Nữ Quân Đội chính thức được thành lập và có biên chế công tác trong hệ thống quân đội đồng thời cũng có quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội PNCS trong Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Hoạt động của Ban Phụ nữ QĐ, thực hiện các phong trào và chương trình trọng tâm của TW Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, phát động, gắn kết với phong trào thi đua quyết thắng trong quân đội, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Năm 1989 tổ chức phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong Phụ Nữ QĐ.
Ngày 08.3.1998 phát động phong trào “Phụ Nữ Quân Đội tích cực công tác học tập, lao động thực hành tiết kiệm, xây dựng gia đình hạnh phúc” đồng thời đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”.
Từ năm 2007 phong trào “Hai giỏi” của phụ nữ Quân Đội được thay thế bằng phong trào 3 tiêu chuẩn “Tích cực học tập, lao động sáng tạo, hoàn thành tốt nhịêm vụ, xây dựng gia đình hạnh phúc”.
Công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay, đặc biệt là sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo những điều kiện thuận lợi và cơ hội để phụ nữ Việt Nam phát huy khả năng và những phẩm chất tốt đẹp đã được xây đắp qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và những ảnh hưởng tiêu cực của thời kỳ mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã và đang đặt ra nhiều thách thức đối với phụ nữ, một số giá trị tốt đẹp về phẩm chất đạo đức của phụ nữ Việt Nam có phần mai một, quan niệm về các giá trị đạo đức truyền thống đang dần bị phai mờ trong nhận thức và lối sống của một bộ phận phụ nữ, nhận thức của một số bộ phận người dân, phụ nữ về vai trò, chức năng giáo dục của gia đình còn hạn chế, trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xây dựng gia đình hạnh phúc có xu hướng bị xem nhẹ…
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội, tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, giáo dục, vận động phụ nữ phấn đấu vì mục tiêu bình đẳng. Qua hơn 83 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt từ năm 1987 đến nay, cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam luôn coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm của Hội.
Phấn đấu thực hiện các phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam chính là góp phần thực hiện chiến lược xây dựng, phát triển con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xây dựng người phụ nữ Việt Nam theo tiêu chí được xác định trong Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ X. Đây là nhiệm vụ có tính ưu tiên của cả hệ thống chính trị mà tổ chức nòng cốt là Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, có sự tham gia chủ động, tích cực của các Bộ, ngành, đoàn thể.
Xuất phát từ thực tiễn và thực hiện Nghị quyết của Đảng, của Hội qua quá trình nghiên cứu, thử nghiệm, khảo sát, lấy ý kiến của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và đông đảo các tầng lớp phụ nữ và nhân dân, Ban chấp hành Trung ương Hội liên hiệp PNVN kỳ họp thứ X (khóa X) đã quyết nghị lựa chọn 4 phẩm chất đạo đức: Tự tin – Tự trọng – Trung hậu – Đảm đang để triển khai tuyên truyền, học tập, rèn luyện trong toàn thể cán bộ, hội viên phụ nữ.
Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang là những phẩm chất đạo đức truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Tuy nhiên, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, các phẩm chất đạo đức ấy được bổ sung những nội dung mới với những biểu hiện cụ thể, phù hợp với yêu cầu của giai đoạn hiện nay.
Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang luôn là phẩm chất đạo đức truyền thống tốt đẹp, góp phần thể hiện vai trò làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ, đồng thời khẳng định vị thế của chị em trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, việc phát huy những phẩm chất đạo đức ấy càng có ý nghĩa hơn, giúp người phụ nữ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Đối với bản thân người phụ nữ, 4 phẩm chất đạo đức Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang giúp người phụ nữ nắm bắt cơ hội, tận dụng những yếu tố tích cực, tránh những tác động tiêu cực của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, vượt qua những thách thức, khó khăn để trở thành người phụ nữ thành công trong cuộc sống và sự nghiệp. Đó cũng là điều kiện đem lại giá trị đích thực cho người phụ nữ, hướng người phụ nữ sống thiện, sống đẹp, sống có ích. Khi vai trò, vị trí của người phụ nữ được nâng lên, chị em có thể đóng góp nhiều hơn cho đất nước.
Đối với mỗi gia đình, bốn phẩm chất đạo đức Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang còn giúp người phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người vợ đảm đang, người mẹ hiền, từ đó tác động tích cực tới các thành viên trong gia đình, tạo cơ sở để xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc bền vững.
Đối với cộng đồng, bốn phẩm chất đạo đức Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang còn giúp người phụ nữ thực hiện tốt trách nhiệm công dân, tác động tích cực tới cộng đồng, xã hội, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước.
Trước những yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để có được bốn phẩm chất Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang, góp phần nâng cao vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và xã hội người phụ nữ cần phải cố gắng nỗ lực, phấn đấu không ngừng.
Trước hết, mỗi một phụ nữ cần nhận thức đúng, đầy đủ về bốn phẩm chất và sự cần thiết phải rèn luyện để có được những phẩm chất đó. Sẵn sàng vượt qua khỏi định kiến giới, vượt qua những trở ngại của bản thân, dám nghĩ,dám làm, dám tin vào khả năng thành công của mình, đồng thời có niềm tin vào ý chí, năng lực, bản lĩnh và phẩm chất tốt đẹp của bản thân, của phụ nữ.
Mỗi người cần xác định rõ trách nhiệm xã hội của mình trong quá trình tu dưỡng và rèn luyện phẩm chất đạo đức. Luôn quan tâm đến lợi ích xã hội, tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng, khắc phục tư tưởng ích kỷ, hẹp hòi, níu kéo, đố kỵ với người khác.
Không ngừng học tập vươn lên, tự xác định nhu cầu, mục đích học tập, lựa chọn nội dung và loại hình học tập thích hợp, có ý thức học mọi lúc, mọi nơi, mọi hình thức, học suốt đời để nắm vững chỉ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; nội quy, hương ước của tập thể, cộng đồng, nâng cao kiến thức văn hóa, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử, kỹ năng nuôi dạy con cái và chăm sóc gia đình.
Tự giác, thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức. Phải xác định được rằng phẩm chất đạo đức của con người không tự nhiên, sẵn có mà được hình thành qua giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện hàng ngày. Đồng thời, phẩm chất đạo đức cũng không phải nhất thành, bất biến mà luôn chịu sự tác động của ngoại cảnh, dễ bị thay đổi. Do đó, việc rèn luyện cần được thực hiện thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, tự soi xét bản thân hàng ngày và tu dưỡng suốt cả cuộc đời.
Để gìn giữ và không ngừng phát huy những phẩm chất đạo đức truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam, mỗi một cán bộ, hội viên, phụ nữ hãy tích cực học tập, rèn luyện theo 4 phẩm chất đạo đức Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang, đồng thời là nòng cốt trong việc tuyên truyền để làm sao cho các phẩm chất đạo đức tốt đẹp có sức lan tỏa rộng khắp trong toàn xã hội. Bởi lẽ, giữ gìn, phát huy và bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam không chỉ cần thiết đối với mọi phụ nữ mà còn cần thiết đối với mọi người dân Việt Nam.
Tiếp bước truyền thống phụ nữ Việt Nam, PNQĐ, phụ nữ lực lượng vũ trang Quân khu 9 luôn phát huy bản chất cần cù, sáng tạo, chịu thương chịu khó, nhân hậu, bao dung, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao với tinh thần trách nhiệm cao.
Bệnh viện quân y 121, với bề dày truyền thống, hết lòng hết sức phục vụ thương bình, bệnh binh và nhân dân. Hai lần được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng LLVTND. Hoạt động trong lĩnh vực ngành y mỗi cán bộ, hội viên không ngừng rèn luyện, thực hiện tốt tiêu chuẩn đạo đức của người nhân viên y tế.
Thưa các đ/c !
Sinh thời, Bác Hồ luôn luôn quan tâm tới sức khỏe của đồng bào, ngay từ những ngày đầu cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ đã căn dặn “Mỗi người dân khỏe thì cả nước khỏe” cán bộ y tế “Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt”. Cần phải tận tâm, tận lực, phụng sự nhân dân “Lương y kiêm từ mẫu”. Cán bộ y tế nên cố gắng thực hiện:
“ Về chuyên môn: Cần luôn luôn học tập nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ, nhưng phải chú trọng cái gì thiết thực và thích hợp với hoàn cảnh kháng chiến của ta hiện nay. Về chính trị: Cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: Yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác”.
Lời Bác Hồ dạy là lời non nước, là định hướng giá trị cho mỗi cán bộ y tế, là phương châm và khẩu hiệu hành động của Ngành y tế “Lương y như từ mẫu”. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu, đội ngũ cán bộ y tế từ những vị giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, dược sĩ, đến những nhân viên y tế công tác ở những Bệnh viện lớn, đến những bản làng xa xôi hẻo lánh đã nỗ lực phấn đấu, vượt lên trên mọi khó khăn, phát huy cao tính năng động sáng tạo, tận tụy chăm sóc và cứu chữa trả lại sức khỏe cho người bệnh và đem lại hạnh phúc cho gia đình họ. Đã có nhiều tấm gương sáng chói, thậm chí không ít người y đã ngã xuống khi đang thi hành nhiệm vụ, những tấm gương sáng về y đức luôn được nhân dân quý mến, các cấp ủy Đảng và chính quyền tin yêu.
Quy định về y đức (tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế) ban hành theo quyết định số 2088/BYT – QĐ ngày 06 tháng 11 năm 1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế, gồm 12 điểm:
1. Chăm sóc sức khỏe cho mọi người là nghề cao quý. Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
2. Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh.
3. Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thăm khám, chăm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử người bệnh, không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh.
4. Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình, trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục. Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chăm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết.
5. Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được đùn đẩy người bệnh.
6. Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh.
7. Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử trí kịp thời các diễn biến của người bệnh.
8. Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chăm sóc và giữ gìn sức khỏe.
9. Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết.
10. Thật thà, đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau.
11. Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình, không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước.
12. Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị tai nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.
Hội PNCS BVQY 121 chính thức được thành lập vào ngày 08/11/1993. Gần 20 năm qua Hội PNCS đã luôn làm tốt chức năng của mình, đoàn kết vận động chị em thực hiện tốt mọi chương trình hoạt động Hội, thực hiện mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ, góp phần xây dựng tổ chức Đảng TSVM, xây dựng đơn vị VMTD.
Hội PNCS Bệnh viện, luôn đạt tổ chức Hội vững mạnh xuất sắc, nhiều năm liền được nhận Bằng khen, cờ thưởng của Trung ương Hội LHPNVN và Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nhiều cá nhân được khen thưởng Chiến sĩ thi đua, CSTT, LĐTT đặc biệt đến nay có 10 chị là được phong tặng Thầy thuốc ưu tú.
Tự hào về truyền thống dân tộc, truyền thống phụ nữ Việt Nam, PNQĐ và truyền thống đơn vị, cán bộ, hội viên Hội PNCS – BVQY 121 luôn gìn giữ, phát huy phẩm chất truyền thống của người phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”; thiết thực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt tiêu chí người phụ nữ Việt Nam “Có lòng yêu nước, có sức khỏe, có tri thức, có kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu”, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đầy mạnh CNH, HĐH đất nước. Tiếp tục hưởng ứng tích cực các cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” thực sự có hiệu quả, đảm bảo sự lan tỏa rộng khắp, đi vào chiều sâu; góp phần khẳng định, nâng cao vai trò, vị thế của tổ chức Hội LHPN Việt Nam. Luôn có ý thức chăm lo xây dựng gia đình theo chuẩn mực “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”, góp phần thực hiện thắng lợi phong trào thi đua quyết thắng của đơn vị. Xây dựng tổ chức Hội VMXS, xây dựng tổ chức Đảng TSVM và xây dựng đơn vị VMTD.
Ban ChÃnh trị