Ngày 06/08/2016, Bệnh viện quân y 121 – Cục Hậu cần Quân khu 9 đã tiếp nhận bệnh nhân Đ.C.L, sinh năm 1991, thường trú tại Long mỹ – Hậu Giang. Bệnh nhân bị bệnh nhiều năm nay, đã được chẩn đoán và điều trị bệnh viêm màng não ở nhiều bệnh viện. Gần đây bệnh nhân có các biểu hiện sốt, nôn ói và đau đầu thường xuyên, đượcKhoa Chẩn đoán hình ảntiến hành chụp MRI sọ não với các xung T1W, T2W, FLAIR, DWI, có tiêm thuốc đối quang từ. Kết quả bệnh nhân bị một khối u màng não lỗ chẩm kích thước lớn gây chèn ép thân não.
Hình ảnh tổn thương
U màng não là loại u nội sọ lành tính thường gặp nhất. Chúng bắt nguồn từ các tế bào mũ trong màng nhện – lớp màng mỏng như màng nhện phủ lên nhu mô não và tủy sống. Màng nhện là một trong ba lớp màng não bao bọc não và tủy sống. Các lớp màng não này bao gồm màng nhện, màng mền và màng cứng. Dù phần lớn u não là lành tính, chúng có thể phát triển đến kích thước rất lớn khi được phát hiện, và ở một vị trí đặc biệt có thể gây rối loạn chức năng thần kinh và đe dọa tính mạng. Hầu hết các bệnh nhân chỉ có một u, tuy nhiên một số trường hợp bệnh nhân có thể có nhiều u phát triển một cách nhanh chóng ở nhiều vùng của não hoặc tủy sống.
Một số u màng não được phát hiện dọc theo màng cứng vùng xoang tĩnh mạch của não và sàn sọ, nơi có nhiều tế bào mũ trong màng nhện. Phân loại dưới đây dựa theo vị trí của u:
• U màng não xoang hang: gần vùng dẫn lưu máu tĩnh mạch từ não về tim
• U màng não góc cầu tiểu não: nằm ở bờ tiểu não, vị trí điển hình của u thần kinh thính giác.
• U màng não bán cầu não: nằm trên bề mặt của bán cầu não
• U màng não lỗ chẩm: gần chỗ mở của nền sọ mà qua đó phần thấp của thân não đi xuống dưới.
• U màng não trong hố mắt: u trong hay quanh ổ mắt
• U màng não trong não thất: nằm trong các não thất, nơi dịch não tủy được dẫn lưu khắp não.
• U màng não rãnh khứu: dọc theo dây thần kinh khứu giác
• U màng não liềm não/cạnh xoang dọc trên: cạnh nếp gấp màng cứng nơi phân cách bán cầu não hai bên.
• U màng não phần đá xương thái dương: vùng xương thái dương chứa các cấu trúc nhiệm vụ hỗ trợ chức năng nghe.
• U màng não hố sau: gần phần sau não
• U màng não xương bướm: gần xương bướm, sau hốc mắt
• U màng não cột sống: nằm trong cột sống, vài trường hợp chèn ép tủy sống
• U màng não bể trên yên: gần nền sọ vị trí tuyến yên
• U màng não lều tiểu não: u vị trí lều tiểu não
Xuất độ
Theo tổ chức khoa học về não bộ và Hiệp hội Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ, u màng não chiếm khoảng 34% u não nguyên phát, và thường xảy ra nhất ở lứa tuổi 30 – 70. U màng não ác tính chiếm khoảng 2 – 3%.
Phân loại của WHO
U màng não không điển hình (chiếm 7-8% cas u màng não) biểu hiện bất thường mô và tế bào cao. Loại u này phát triển nhanh hơn u màng não lành tính và có thể xâm lấn vào nhu mô não. U màng não không điển hình có xu hướng tái phát cao hơn u màng não lành tính.
U màng não ác tính biểu hiện nhiều bất thường tế bào học, u phát triển nhanh hơn u màng não không điển hình và u màng não lành tính. U màng não ác tính dễ xâm lấn vào nhu mô não, di căn đến các cơ quan khác và có tỉ lệ tái phát cao hơn hai loại u trên.
Yếu tố nguy cơ
Như đề cập ở trên, u màng não thường xảy ra ở lứa tuổi 30 – 70. Trẻ em thường ít bị hơn người lớn. Nữ giới có xu hướng bị gấp đôi nam giới. Tuy nhiên tỉ lệ u ác tính lại xảy ra nhiều hơn gấp 3 lần ở nam giới so với nữ giới. U màng não cột sống xảy ra gấp 10 lần ở nữ giới so với nam giới.
Tiếp xúc với chất phóng xạ ion hóa, nhất là với liều cao đã được chứng minh là có liên quan đến tần suất cao xuất hiện u nội sọ, đặc biệt là u màng não. Cũng đã có bằng chứng cho thấy mối liên quan giữa u màng não và phóng xạ liều thấp.
Bệnh di truyền Neurofibromatosis type 2 – người ta tin rằng người mắc bệnh gia tăng nguy cơ xuất hiện u màng não. Người mắc phải hội chứng NF2 cũng có nguy cơ xuất hiện nhiều u màng não hoặc là u ác tính. Theo tổ chức khoa học về Não bộ, nhiều nghiên cứu đã cho thấy mỗi tương quan giữa u não và hormone. Một số phát hiện như sau:
• U màng não xảy ra nhiều hơn ở nữ
Phát hiện các hormone như estrogen, progesterone và androgen trong một vài loại u màng não
• Mối liên quan giữa ung thư vú và u màng não
• Mối liên quan giữa thai kỳ, chu kỳ kinh và sự phát triển u màng não
Các nhà nghiên cứu đang bất đầu tìm hiểu mối liên kết có thể giữa nguy cơ u màng não và việc dùng thuốc tránh thai cũng như liệu pháp hormone thay thế.
Triệu chứng
Vì u màng não thông thường phát triển rất chậm, chúng không gây ra triệu chứng đáng chú ý nào cho đến khi kích thước khá lớn. Vài u màng não hoàn toàn không có bất kỳ triệu chứng của màng não được liệt kê dưới đây:
Đau đầu, động kinh, thay đổi tính cách, hành vi, sụt giảm chức năng thần kinh khu trú tiếp diễn, lũ lấn, ngủ gà, mất thính lực hay ù tai, yếu cơ, nôn ói, rối loạn thị giác.
Triệu chứng có thể liên quan cụ thể đến vị trí của u, ví dụ:
• Liềm não: suy giảm chức năng thần kinh ví dụ như lý luận, ghi nhớ. Nếu u nằm khu vực đường giữa, nó có xu hướng gây yếu chi dưới, dị cảm hoặc co giật
• Bán cầu: có thể gây co giật, đau đầu, hay khiếm khuyết thần kinh
• Xương bướm: ảnh hưởng thị lực, mất cảm giác ở mặt, dị cảm mặt, co giật
• U rãnh khứu: mất mùi do u chèn ép dây thần kinh khứu giác. Nếu u phát triển lớn có thể ảnh hưởng đến thị lực do dây thần kinh bị chèn ép.
• Bể trên yên: thị giác, do chèn ép giao thoa thị giác/dây thần kinh thị giác
• Hố sau: triệu chứng ở mặt hoặc mất thính lực do chèn ép các dây thần kinh sọ, đi đứng loạng choạng và mất phối hợp vận động.
• Trong não thất: bít tắc dẫn lưu dịch não tủy, dẫn đến đầu nước do tắc nghẽn, có khả năng dẫn đến đau đầu, choáng váng, rối loạn chức năng tâm thần kinh.
• Trong ổ mắt: tăng áp lực ổ mắt, gây lồi mắt và nguy cơ mất thị lực
• Cột sống: đau lưng, đau chi gây ra do chèn ép thần kinh
Chẩn đoán u màng não
Có nhiều lý do khiến cho việc chẩn đoán u màng não gặp nhiều khó khăn. Phần lớn các u màng não phát triển chậm và hầu hết chỉ gặp ở người trưởng thành, nên triệu chứng có thể không rõ ràng khiến cho bệnh nhân/bác sĩ lầm tưởng rằng đó là những dấu hiệu bình thường của tuổi tác. Bên cạnh đó một vài triệu chứng đi kèm với u màng não cũng có thể do các bệnh lý khác. Việc chẩn đoán sai không hiếm gặp, và thực tế là mất nhiều năm mới có thể tìm ra được chẩn đoán chính xác.
Khi một bệnh nhân xuất hiện triệu chứng rối loạn tâm thần kinh tăng dần, co giật mới khởi phát hoặc đau đầu kéo dài, hoặc nếu như có bằng chứng tăng áp lực nội sọ (vd: đau đầu nôn ói, phù đĩa thị giác), bước đầu tiên cần làm là phải thăm khám hệ thần kinh một cách toàn diện kỹ lưỡng, kèm với các xét nghiệm hình ảnh học nếu cần thiết.
Các kỹ thuật hình ảnh học như CT, MRI là một công cụ đắc lực hỗ trợ việc chẩn đoán. MRI trong mổ cũng được dùng để hướng dẫn sinh thiết và bóc tách u. cộng hưởng từ phổ (MRS) được dùng để đánh giá đặc điểm hóa học của u và xác định bản chất của u phát hiện trên MRI.
Đôi khi, cách duy nhất để có được chẩn đoán xác định u màng não là thông qua sinh thiết u. Bác sĩ phẫu thuật thần kinh sẽ thực hiện sinh thiết, và nhà giải phẫu bệnh đưa ra chẩn đoán cuối cùng, quyết định bản chất u là lành hay ác, đồng thời phân độ tế bào u.
* Điều trị u màng não
Phẫu thuật
U màng não thường là lành tính, hầu hết có giới hạn rõ, dễ dàng cho việc bóc tách u hoàn toàn, cho khả năng trị khỏi cao. Bác sĩ phầu thuật thần kinh sẽ mở sọ để có thể tiếp cận u. Mục đích của cuộc phẫu thuật là nhằm loại bỏ u hoàn toàn, kể cả các mô sợi đính u vào xương và não. Tuy nhiên, việc bóc tách u hoàn toàn có thể đem lại nguy cơ đáng kể, nhất là khi u đã xâm lẫn nhu mô não hay các tĩnh mạch xung quang. Mặc dù mục đích chính của việc phầu thuật là loại bỏ u, ưu tiên hàng đầu vẫn là bảo tồn hoặc cải thiện chức năng thần kinh cho bệnh nhân.
Với những bệnh nhân mà việc bóc u hoàn toàn có thể đem lại nguy cơ tàn tật đáng kể (bất kỳ biến chứng nào có thể gây giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh ), có thể tốt hơn hết là ở vài vị trí khó lấy và theo dõi sự phát triển của u bằng các xét nghiệm hình ảnh học định kỳ. Trong những trường hợp đó, bệnh nhân sẽ được theo dõi một thời gian, tái khám và chụp MRI kiểm tra, hoặc hóa trị, xạ trị ở một số bệnh nhân. Việc thuyên tắc u trước mổ cũng khá phổ biến, giúp đảm bảo an toàn cho cuộc mổ. Thủ thuật thuyên tắc u cũng tương tự như việc chụp mạch não, ngoại trừ việc phẫu thuật viên sẽ bơm chất keo và mạch máu để tắc các nhánh mạch máu nuôi u.
Dự hậu
Độ tuổi của bệnh nhân lúc chuẩn đoán u là một trong những yếu tố dự hậu quan trọng. Nói chung, tuổi càng trẻ thì tiên lượng càng tốt. Một yếu tố tiên lượng khác đó là u được loại bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên điều này không phải lúc nào củng khả thi tùy thuộc vào vị trí của u.
BSCKI Trần Thanh Huệ