Xơ gan là một bệnh phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới. Theo thống kê của hội gan mật Việt Nam, năm 2006 có 15% dân số bị viêm gan B mạn tính và 6% bị viêm gan C mạn tính. Ngoài viêm gan do vi rút còn có các loại viêm gan do rượu, do thuốc, do độc chất,…, cũng dễ dẫn đến xơ gan. Việc tiên lượng và điều trị bệnh gan mạn tính phụ thuộc vào diễn tiến và mức độ xơ hóa gan. Sinh thiết gan được xem như là một tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán mức độ xơ hóa gan. Tuy nhiên đây là một thủ thuật xâm lấn khó có thể áp dụng rộng rải và có thể xảy ra một số tai biến nhất định.
Chính vì vậy đã có nhiều phương pháp không xấm lấn ra đời nhằm xác định mức độ xơ hóa gan, trong đó có kỹ thuật Fibrosan - đo độ đàn hồi gan. Từ đó kỹ thuật này trở thành một phương pháp mới được ứng dụng rộng rãi, đặc biệt là nhằm mục đích phát hiện sớm xơ hóa gan mà có thể lặp đi lặp lại nhiều lần không để lại tai biến nào. Trên thế giới đã được nhiều nước ứng dụng với kết quả được chứng minh tương đương với sinh thiết gan. Ở Việt Nam bắt đầu ứng dụng phương pháp này vào năm 2006 ở trung tâm chẩn đoán y khoa MEDIC Hòa Hảo TPHCM. Bệnh viện quân y 121 quân khu 9 được trang bị máy FIBROSCAN 502 của hãng ECHOSEN Pháp vào năm 2013 và là một trong 10 máy FIBROSCAN của cả nước.
Nguyên lý: Fibrosan đánh giá xơ hóa gan bằng cách tính vận tốc của sóng biến dạng thoáng qua ở tần số thấp 50Hz. Các mô càng cứng thì vận tốc truyền sóng càng nhanh. Nguyên lý hoạt động gồm bốn bước:
- Bước 1: Tạo sóng shear wave. Khi tiếp xúc với bề mặt da, đầu dò tạo ra một xung lực cơ học, xung lực này sản sinh ra sóng shear wave

- Bước 2: Truyền sóng shear wave. Sóng shear wave được truyền xuyên qua các mô dưới da và đến gan. Trong thời gian này, đầu dò phát ra sóng siêu âm được dùng để theo dõi sự lan truyền của sóng shear wave.

- Bước 3: Xử lý tín hiệu. Một thuật toán phân tích tín hiệu siêu âm đã nhận được và xác định tốc độ truyền của sóng shear wave

- Bước 4: Kết quả. Mô càng cứng thì tốc độ truyền sóng shear wave càng nhanh: do đó giá trị độ cứng thể hiện qua đơn vị kilo pascal (kPa) có nguồn gốc từ vận tốc V

Kỹ thuật đo: Đặt đầu dò ở khoang liên sườn tương ứng với vùng gan khảo sát (chủ yếu ở gan phải), vuông góc với mặt da, không chạm vào xương sườn, không có khí màng phổi lọt vào vùng khảo sát, vùng khảo sát đảm bảo đủ 3cm3 nhu mô gan. Ấn nút quét tối thiểu 10 lần, lấy giá trị trung bình, đơn vị tính là kPa (Kilo Pascal).
Đây là một kết quả cận lâm sàng đã được chứng minh tương đương với sinh thiết gan, có ý nghĩa trong chẩn đoán các mức độ xơ hóa gan, đặt biệt để chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời ở những bệnh nhân viêm gan mạn với bất kỳ nguyên nhân gì.
Kết quả nói lên độ cứng của gan hay tốc độ truyền sóng đàn hồi trong gan nhanh hay chậm (nhu mô gan càng cứng tốc độ truyền càng nhanh), thể hiện qua đơn vị Kilo Pascal, tương ứng với kết quả sinh thiết gan theo thang điểm METAVIR.
Thang điểm Metavir: Là một hệ thống để định lượng mức độ viêm và xơ hóa, đánh giá các mô sẹo định vị xung quanh cửa gan và các khu vực khác trong gan. Thang điểm METAVIR phân mức độ xơ hóa gan thành 5 cấp độ từ F0 đến F4:
“Metavir là một hệ thống thang điểm phổ biến”
Thang điểm METAVIR


Một số trường hợp hạn chế ảnh hưởng đến kết quả:
1- Ảnh hưởng đến giá trị độ cứng:
- Viêm gan cấp.
- Tắc mật ngoài gan.
- Tắc nghẽn tĩnh mạch gan.
- Xơ hóa không đồng bộ.
2- Ảnh hưởng lên tỉ lệ thành công:
- Béo phì.
- Vị trí đặt đầu dò.
- Khoang gian sườn quá hẹp.
- Dịch ổ bụng lượng nhiều.
- Tổn thương cục bộ trong vùng đo: nang gan, ápxe, khối u,…
BS Kim Thanh Hùng - Khoa Chẩn đoán hình ảnh
Đăng ngày 25/12/2015