Notice: Undefined index: muc_tin_tuc in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 480

Notice: Undefined index: muc in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 481

Notice: Undefined index: khoi in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 482

Notice: Undefined index: muc_lich_thongbao in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 483

Notice: Undefined index: muc_van_ban in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 484

Notice: Undefined index: id in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 485

Notice: Undefined index: khoi in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 541

Notice: Undefined index: khoi in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 544

Notice: Undefined index: khoi in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 547

Notice: Undefined index: khoi in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 550

Notice: Undefined index: muc_lich_thongbao in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 553

Notice: Undefined index: muc_lich_thongbao in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 556

Notice: Undefined index: muc_lich_thongbao in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 559

Notice: Undefined index: muc_lich_thongbao in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 562

Notice: Undefined index: muc_lich_thongbao in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 565

Notice: Undefined index: muc_lich_thongbao in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 568

Notice: Undefined index: muc_ltb in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 571

Notice: Undefined index: muc_ltb in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 574

Notice: Undefined index: muc_ltb in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 577

Notice: Undefined index: muc_ltb in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 580

Notice: Undefined index: muc_van_ban in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 583

Notice: Undefined index: muc_van_ban in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 586

Deprecated: mysql_connect(): The mysql extension is deprecated and will be removed in the future: use mysqli or PDO instead in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 590

Notice: Use of undefined constant muc_tin_tuc - assumed 'muc_tin_tuc' in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 666

Notice: Use of undefined constant muc_ltb - assumed 'muc_ltb' in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 671

Notice: Undefined index: muc_ltb in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 671

Deprecated: mysql_connect(): The mysql extension is deprecated and will be removed in the future: use mysqli or PDO instead in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 16

Notice: Undefined index: muc_lich_thongbao in /home/bvqyvn/public_html/libraries/function.php on line 186
Bệnh viện Quân y 121
ĐẶT KHÁM ONLINE

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH ỐI VỠ SỚM, CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ỐI VỠ SỚM TẠI KHOA SẢN BỆNH VIỆN QUÂN Y 121 NĂM 2020

TÓM TẮT

          Đặt vấn đề: Ối vỡ sớm là tình trạng ối vỡ khi đã vào chuyển dạ và trước khi cổ tử cung mở trọn, là tai biến thường gặp trong thai kỳ, thường xảy ra nhất ở thai đủ tháng (từ 37 tuần tuổi trở lên). Đây là bệnh cảnh lâm sàng có nhiều nguy cơ như sa dây rốn, chèn ép rốn, nhau bong non, tăng nguy cơ sinh non nên làm tăng bệnh suất và tử suất cho thai nhi và ối vỡ sớm còn làm gia tăng nguy cơ mổ lấy thai và kéo dài thời gian nằm viện ảnh hưởng nguy hiểm đến sức khỏe sản phụ. Nghiên cứu  nhằm xác định tỉ lệ, các yếu tố liên quan và kết quả điều trị ối vỡ sớm tại khoa sản Bệnh viện Quân Y 121. 

          Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các sản phụ vào sinh tại khoa sản Bệnh viện Quân Y 121 trong thời gian nghiên cứu thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu và loại trừ với phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích trên 1267 sản phụ

          Kết quả: Tỉ lệ ối vỡ sớm là 16,89%. Có sự liên quan giữa ối vỡ sớm với nghề nghiệp (p= 0,003), tiền thai (OR=0,67, 95% CI 0,51-0,9), tử cung có sẹo mổ cũ (OR=0,37, 95%CI 0,23-0,6), tiền căn sẩy thai (p=0,02), tiền căn nạo hút thai (OR= 3,12, 95%CI 1,79- 5,14), ngôi thai (OR=3,05, 95%CI 1,74-5,34), tuổi thai (p= 0,004), phương pháp điều trị (OR= 3,82, 95%CI 2,8-5,2), tình trạng của bé sau sinh (p=0,002). Phương pháp sinh: Sản phụ ối vỡ sớm có phương pháp mổ cao hơn so với sanh ngã âm đạo và không có liên quan đến tình trạng của mẹ sau sanh.

          Kết luận: Ối vỡ sớm là một tai biến thường gặp trong thai kỳ, các trường hợp ối vỡ sớm thường nhập viện khá muộn và có nhiều nguy cơ cho cả mẹ và thai. Do đó, việc phát hiện ối vỡ sớm là nhiệm vụ quan trọng trong công tác khám thai, quản lý thai nghén và trong chuyển dạ, đặc biệt ở những sản phụ có các yếu tố nguy cơ. Từ đó các bác sĩ lâm sàng cần có thái độ xử trí phù hợp cho thai phụ, nhằm giảm các nguy cơ có thể xảy ra cho mẹ và thai.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ: 

          Ối vỡ sớm là tai biến thường gặp trong thai kỳ, chiếm từ 8% đến 13,6% trong các trường hợp sinh và thường xảy ra nhất ở thai đủ tháng (từ 37 tuần tuổi trở lên), khoảng 1%-3,1% xuất hiện trước 37 tuần tuổi thai [8]. Đây là bệnh cảnh lâm sàng có nhiều nguy cơ như sa dây rốn, chèn ép rốn, nhau bong non, tăng nguy cơ sinh non nên làm tăng bệnh suất và tử suất cho thai nhi và ảnh hưởng nguy hiểm đến sức khỏe sản phụ [11]. Trong đó, tỉ lệ nhiễm trùng ối sẽ tăng khi thời gian vỡ ối kéo dài, sau đó, có thể dẫn đến nhiễm trùng hậu sản nhiều mức độ, mà nặng nhất là viêm phúc mạc hay nhiễm trùng huyết 

          Đối với trẻ sơ sinh, ối vỡ sớm làm tăng nguy cơ nhiễm trùng sơ sinh [11], ước lượng có khoảng 36% trẻ sơ sinh tử vong do nhiễm trùng. Ngoài ra, ối vỡ sớm, còn làm gia tăng nguy cơ mổ lấy thai và kéo dài thời gian nằm viện. Tỉ lệ ối vỡ sớm đang có xu hướng gia tăng trong thời gian gần đây, theo ghi nhận của một số  nghiên cứu tại Cần Thơ, năm 2011, Đỗ Thị Trúc Thanh, Lâm Đức Tâm ghi nhận tỉ lệ ối vỡ sớm là 10,22% [5]. Các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy tình hình ối vỡ sớm khác nhau ở từng thời điểm và địa điểm nghiên cứu  và gần đây (năm 2015), nghiên cứu tại Trung Quốc của Hou L., Wang X. ghi nhận tỉ lệ ối vỡ sớm là 13,6% [10]. Do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài  “Nghiên cứu tình hình ối vỡ sớm, các yếu tố liên quan và kết quả điều trị ối vỡ sớm tại Bệnh viện Quân Y 121” với các mục tiêu: xác định tỉ lệ ối vỡ sớm, một số yếu tố liên quan và khảo sát kết quả điều trị các trường hợp ối vỡ sớm ở sản phụ vào sinh tại khoa sản Bệnh viện Quân Y 121

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

2.1. Đối tượng nghiên cứu: 1267 sản phụ vào sinh tại khoa sản Bệnh Viện 121 thỏa các tiêu chuẩn chon mẫu và đồng ý tham gia nghiên cứu, với các tiêu chuẩn loại trừ: thai chết lưu, ối vỡ non, các sản phụ có bệnh lý tâm thần và không đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.2. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang có phân tích trên 1267 sản phụ 

2.3. Phương pháp chọn mẫu: mẫu thuận tiện trong thời gian nghiên cứu

2.4: Nội dung nghiên cứu: Tuổi sản phụ, Nghề nghiệp, Tiền thai (PARA), tiền căn sẩy thai, tiền căn nạo hút thai, tử cung có sẹo mổ cũ, ngôi thai, tuổi thai, thời gian ối vỡ, phương pháp sinh. Các số liệu thu thập thông qua phiếu thu thập số liệu. Sau khi thu thập, nhập và xử lí bằng SPSS 10.0 bằng cách mô tả tần suất, số trung bình, sử dụng các pháp kiểm χ² (Chi Square) để tìm hiểu các yếu tố liên quan với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p<0,05 ở 2 nhóm ối còn và ối vỡ.

3. KẾT QUẢ  VÀ BÀN LUẬN : (Từ 10/2019 đến 10/2020)

3.1 Tỷ lệ ối vỡ sớmtại khoa sản Bệnh Viện Quân Y 121

 

          Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận có 214 trường hợp có ối vỡ sớm trong tổng số 1267 trường hợp vào sinh tại Bệnh viện Quân Y 121, với kết quả đó, tỉ lệ ối vỡ sớm là 16,89%, so với kết quả của các tác giả trong nước như Ngô Thị Kim Phụng (1996) là 12%, Đỗ Thị Trúc Thanh, Lâm Đức Tâm (2011) 10,22% hay của các tác giả nước ngoài James D.K. (1999) 10% và gần nhất là của Hou L., Wang X. năm 2015 tại Trung Quốc chiêm 13,6%, Tỉ lệ ối vỡ sớm đang có xu hướng tăng lên theo thời gian, từ 8% theo Cammu H. và cộng sự năm 1990 [8] lên đến 13,6% trong nghiên cứu của Hou L., Wang X. thực hiện năm 2015 [10]. Theo Cunningham F.G. tần suất ối vỡ sớm khác nhau ở các bệnh viện và tần suất này tăng ở các bệnh viện tiếp nhận sản phụ từ nơi khác chuyển đến [9] Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại khoa sản Bệnh viện Quân Y 121 là bệnh viện tuyến tỉnh, là tuyến tiếp nhận các sản phụ từ các bệnh viện tuyến dưới chuyển đến, do đó tỉ lệ các bệnh lý tăng cao trong đó có ối vỡ sớm, phù hợp với nhận định trên. 

          Từ những nguyên nhân trên dẫn đến tỉ lệ ối vỡ sớm trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn các nghiên cứu trước đó. Với tỉ lệ là 16,89%, ối vỡ sớm là một vấn đề sản khoa thường gặp trên lâm sàng. Vì thế, các bác sĩ sản phụ khoa cần chú ý quan tâm đến nguy cơ ối vỡ sớm trong thai kỳ cũng như lúc vào chuyển dạ để có thái độ theo dõi, xử trí đúng nhằm tránh các ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bà mẹ và thai nhi.

3.2. Thời gian ối vỡ đến nhập viện

Thời gian ối vỡ

Tần suất (n=214)

Tỉ lệ (%)

<60 phút

15

7,01

≥60 phút

199

92,99

Trung bình: 180,49±101,46 phút (tối đa là 450 phút, tối thiểu là 25 phút)

          Kết quả cho thấy thời gian ối vỡ sớm đến khi nhập viện ≥60 phút chiếm tỉ lệ cao với 92,99% so với 7,01% trường hợp nhập viện trong vòng 60 phút. Trung bình thời gian ối vỡ sớm đến khi nhập viện là 180,49±101,46 phút với mức tối đa là 450 phút, tối thiểu là 25 phút. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Đỗ Thị Trúc Thanh, Lâm Đức Tâm với thời gian trung bình là 184,25±178,33 phút [5]. Qua đó cho thấy, phần lớn sản phụ có ối vỡ sớm nhập viện khá muộn, đa số sau 1 giờ và trung bình khoảng 3 giờ. Điều này có thể do nhà sản phụ ở xa, phương tiện đi lại khó khăn, hoặc do sản phụ không biết thế nào là ối vỡ hay do ý thức, thái độ của sản phụ đối với tình trạng ối vỡ chưa cao, chưa hiểu được nguy cơ của ối vỡ sớm. Theo nghiên cứu của Furman B., Hannah M., Lawn J.E. ghi nhận nguy cơ nhiễm trùng cho mẹ và thai tăng ở những trường hợp ối vỡ sớm tỉ lệ với thời gian ối vỡ sớm đến khi nhập viện và đến lúc sinh . Do đó thời gian ối vỡ sớm đến khi nhập viện càng ngắn càng làm giảm nguy cơ nhiễm trùng cho mẹ và trẻ sơ sinh sau sinh.

3.3. Thời gian ối vỡ đến lúc sinh

Thời gian ối vỡ

Tần suất (n=214)

Tỉ lệ (%)

<360 phút (<6 giờ)

40

18,69

360-<720phút (6-<12 giờ)

82

38,32

720-<1440 phút (12-<24 giờ)

86

40,19

≥1440 phút (≥24 giờ)

6

2,80

Trung bình: 658,81±329,21 phút (tối đa là 1900 phút, tối thiểu là 125 phút)

          Kết quả nghiên cứu ghi nhận trung bình thời gian ối vỡ đến lúc sinh là 658,81±329,21 phút (tối đa là 1900 phút, tối thiểu là 125 phút). Thời gian này ngắn so với thời gian chuyển dạ bình thường (khoảng 16-24 giờ đối với con so và khoảng 8-16 giờ đối với con rạ) [2]. Thời gian ối vỡ đến lúc sinh ≥24 giờ chiếm 2,8%. Điều này phù hợp với diễn tiến của ối vỡ sớm trong các nghiên cứu trước. Đỗ Thị Trúc Thanh, Lâm Đức Tâm ghi nhận thới gian ối vỡ đến lúc sinh trung bình là 685,54±318,13 phút [5]. Theo Cammu H., trên 90% trong các thai phụ có ối vỡ non, ối vỡ sớm vào chuyển dạ tự nhiên trong vòng 24 giờ [9].

          Nguy cơ nhiễm trùng cho mẹ và thai tăng ở những trường hợp ối vỡ sớm tỉ lệ với thời gian ối vỡ đến lúc sinh. Do đó, chúng tôi nhận thấy thời gian ối vỡ sớm đến khi sản phụ sinh là vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt là những trường hợp ối vỡ kéo dài mà cổ tử cung không tiến triển, không mở trọn thì cần có hướng xử trí tích cực để tránh các nguy cơ.

3.4. Liên quan giữa nghề nghiệp của sản phụ với ối vỡ sớm

Tình trạng ối

Nghề nghiệp

Ối còn

(n, %)

Ối vỡ sớm

(n, 214%)

χ2

p

OR

95% CI

Nội trợ

460 (43,68)

91 (42,52)

17,68

0,003

1,47

0,88-2,47

Buôn bán

89 (8,45)

10 (4,367)

0,77

0,34-1,72

Làm ruộng

120 (11,40)

41 (19,16)

2,54

1,41-4,58

Công nhân viên

138 (13,10)

18 (8,41)

1

-

Công nhân

171 (16,24)

41 (19,16)

1,78

1,00-3,36

Khác

75 (7,12)

13 (6,07)

1,30

0,62-2,71

          Kết quả cho thấy các nghề lao động vất vả, cực nhọc như công nhân và làm ruộng có nguy cơ ối vỡ sớm cao hơn so với công nhân viên. Khác biệt về nghề nghiệp giữa hai nhóm ối còn và ối vỡ sớm có ý nghĩa thống kê với p<0,01. Đặc biệt, một sản phụ làm ruộng sẽ có nguy cơ ối vỡ sớm cao hơn gấp 2,54 lần so với sản phụ làm công nhân viên. Kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Đỗ Thị Trúc Thanh và Lâm Đức Tâm ghi nhận các sản phụ làm nghề nghiệp vất vả, nặng nhọc có nguy cơ ối vỡ sớm cao hơn các nghề nghiệp khác [5]. Như vậy, các nghề nghiệp nặng nhọc, vất vả như công nhân, nông dân là yếu tố làm tăng nguy cơ ối vỡ sớm.

3.5. Liên quan giữa tiền thai với ối vỡ sớm

     Tình trạng ối

Tiền thai

Ối còn

(n, %)

Ối vỡ sớm

(n, %)

χ2

p

OR

95% CI

Con so

496 (47,11)

121 (56,54)

7,40

0,007

1

-

Con rạ

557 (52,89)

93 (43,46)

0,67

0,51-0,90

          Kết quả khảo sát mối liên quan giữa tiền thai và ối vỡ sớm cho thấy sinh con so chiếm tỉ lệ cao trong cả hai nhóm ối còn và ối vỡ. Tuy nhiên, tỉ lệ này ở nhóm ối vỡ sớm cao hơn so với nhóm ối còn (56,54% so với 47,11%), những sản phụ sinh con rạ có nguy cơ ối vỡ sớm chiếm 43,46% so với sinh con so 56,54%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Tham khảo kết quả của Đỗ Thị Trúc Thanh, Lâm Đức Tâm chưa ghi nhận được yếu tố liên quan này [5], có thể là do thời điểm và địa điểm của 2 nghiên cứu khác nhau, chúng tôi thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Quân Y 121 năm 2019,  trong khi Đỗ Thị Trúc Thanh, Lâm Đức Tâm thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2011 nên đặc điểm của mẫu sẽ có sự khác biệt. Do đó, vấn đề đặt ra là cần có nghiên cứu sâu hơn nữa để tìm hiểu mối tương quan giữa hai yếu tố trên.

3.6. Liên quan giữa tiền sử sản khoa với ối vỡ sớm

3.6.1. Tiền căn tử cung có sẹo mổ cũ:

Tiền căn

Ối còn

(n, %)

Ối vỡ sớm

(n, %)

χ2

p

OR

95% CI

Tử cung có sẹo mổ cũ

Không

839 (79,68)

195 (91,12)

17,43

0,0006

1

-

214 (20,32)

19 (8,88)

0,37

0,23-0,60

          Từ kết quả ở bảng cho thấy tiền căn tử cung có sẹo mổ cũ có tương quan mạnh với ối vỡ sớm, các sản phụ tử cung có sẹo mổ cũ có nguy cơ ối vỡ sớm giảm 63% so với nhóm tử cung không có sẹo mổ cũ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Đỗ Thị Trúc Thanh và Lâm Đức Tâm, tỉ lệ sản phụ có tiền căn tử cung có sẹo mổ cũ trong nhóm ối vỡ sớm thấp hơn nhiều so với nhóm ối còn (2,91% so với 5,44%) [5]. Như vậy, tiền căn tử cung có sẹo mổ cũ là yếu tố làm giảm nguy cơ ối vỡ sớm. Lý giải vấn đề này là do: Các sản phụ có sẹo mổ cũ ở tử cung khi vào chuyển dạ được nhập viện theo dõi sớm và khi có các dấu hiệu như đau vết mổ cũ hay các nguyên nhân mổ lấy thai lần trước còn tồn tại hoặc đánh giá sinh ngã âm đạo không thuận lợi sẽ có chỉ định mổ lấy thai sớm để tránh biến chứng. Điều đó làm giảm tỉ lệ ối vỡ sớm ở nhóm này. Hơn nữa, thai kỳ ở sản phụ có tiền căn tử cung có sẹo mổ cũ là thai kỳ có nguy cơ cao nên sẽ được theo dõi, chăm sóc thai kỳ tốt hơn. Do đó, tỉ lệ ối vỡ sớm trên nhóm sản phụ này thấp hơn.

3.6.2.  Tiền sử sẩy, nạo hút thai với ối vỡ sớm

Tiền căn

Ối còn

(n, %)

Ối vỡ sớm

(n, %)

χ2

p

OR

95% CI

Tiền căn sẩy thai

Không

899 (85,38)

169 (78,97)

5,21 0,020

1

-

154 (14,62)

45 (21,03)

1,53

1,07-2,19

 

Tiền căn nạo, hút thai

Không

1018 (96,68)

194(90,65)

18,13 0,003

1

-

35 (3,32)

20 (9,35)

3,12

1,79-5,41

          Theo bảng cho thấy các sản phụ có tiền căn sẩy thai, nạo phá thai có nguy cơ ối vỡ sớm tăng lên lần lượt là 1,53 và 3,12 lần, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Đỗ Thị Trúc Thanh, Lâm Đức Tâm [5], của Hackenhaar A.A., của Kovavisarach E. và của Tanya Medina cho thấy tiền sử sẩy thai, nạo phá thai làm tăng nguy cơ ối vỡ sớm. Như vậy, tiền căn sẩy thai, nạo phá thai là yếu tố nguy cơ của ối vỡ sớm.

3.7. Liên quan giữa ngôi thai với ối vỡ sớm

Tình trạng ối

Ngôi thai

Ối còn

(n, %)

Ối vỡ sớm

(n, %)

χ2

p

OR

95% CI

Ngôi đầu

1019 (96,77)

195 (91,12)

16,73

0,0002

1

-

Ngôi bất thường

34 (3,23)

19 (8,88)

3,05

1,74-5,34

          Qua khảo sát chúng tôi ghi nhận có sự liên quan giữa ngôi thai và ối vỡ sớm, trong đó, các trường hợp ngôi bất thường có nguy cơ ối vỡ sớm tăng gấp 3,05 lần so với ngôi đầu , sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Như vậy, ngôi bất thường là một yếu tố nguy cơ gây ối vỡ sớm. Điều này phù hợp với các y văn ghi nhận ngôi bất thường là một trong những nguyên nhân gây ối vỡ sớm do ngôi thai không lọt khi chuyển dạ gây rối loạn cơn co tử cung, ngôi thai không lọt dẫn đến đầu ối không được bảo vệ bởi ngôi thai nên sẽ dễ vỡ hơn [8].

3.8. Liên quan giữa tuổi thai với ối vỡ sớm

Tình trạng ối

Tuổi thai

Ối còn

(n, %)

Ối vỡ sớm

(n, %)

χ2

P

OR

95% CI

<37 tuần

116 (11,02)

53 (24,78)

32,12

0,004

2,68

1,87-3,82

37-<42 tuần

935 (88,79)

160(74,78)

1

-

≥42 tuần

2 (0,19)

1 (0,47)

2,91

0,26-32,33

          Tìm hiểu sự liên quan giữa tuổi thai và ối vỡ sớm, kết quả là tỉ lệ sản phụ sanh khi tuổi thai < 37 tuần trong trường hợp ối vỡ sớm cao hơn trong trường hợp ối còn. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Điều này phù hợp với nghiên cứu của Pakrashi T., Defranco E.A. (2013), ghi nhận ối vỡ sớm làm tăng tỉ lệ sinh non ở nhóm sản phụ tham gia nghiên cứu , Allahyar Jazayeri ghi nhận ối vỡ sớm là một nguyên nhân hàng đầu của sinh non [11]. Bên cạnh đó, so với nhóm thai đủ tháng, nhóm tuổi thai ≥ 42 tuần có nguy cơ ối vỡ sớm cao gấp 2,91 lần. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Điều này có thể là do trong thai kỳ quá ngày, màng ối bị suy yếu dần dẫn đến tình trạng vỡ ối khi vào chuyển dạ mà cổ tử cung chưa mở trọn, vấn đề này cũng được đề cập đến trong các y văn. 

3.9. Phương pháp kết thúc thai kỳ trong trường hợp ối vỡ sớm

          Biểu đồ . Phương pháp kết thúc thai kỳ trong trường hợp ối vỡ sớm

          Nhận xét: Tỉ lệ mổ lấy thai ở sản phụ có ối vỡ sớm là 65,42%.

3.10. Liên quan giữa phương pháp kết thúc thai kỳ với ối vỡ sớm: 

Tình trạng ối

Phương pháp

Ối còn

(n, %)

Ối vỡ sớm

(n, %)

χ2

p

OR

95% CI

Sinh ngã âm đạo

702 (66,67)

74 (34,58)

83,84

0,0008

1

-

Mổ lấy thai

351 (33,33)

140(65,42)

3,82

2,80-5,20

          Theo kết quả bảng , trong trường hợp ối vỡ sớm tỉ lệ mổ lấy thai là 65,42%, tỉ lệ này cao hơn so với nhóm ối còn là 33,33% và ối vỡ sớm làm tăng nguy cơ mổ lấy thai gấp 3,82 lần. Khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Kết quả này phù hợp với các y văn rằng ối vỡ sớm làm tăng nguy cơ mổ lấy thai vì nếu ối vỡ khi thai chưa bình chỉnh tốt sẽ dẫn đến ngôi không lọt, chuyển dạ ngưng tiến triển, ngoài ra ối vỡ sớm có thể gây nhiễm khuẩn ối dẫn đến rối loạn cơn co tử cung, tác dụng xóa mở CTC của đầu ối không còn dẫn đến chuyển dạ kéo dài, suy thai [8]. Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Trúc Thanh, Lâm Đức Tâm trong trường hợp ối vỡ sớm tỉ lệ mổ lấy thai cao hơn so với nhóm ối còn (51,45% so với 35,40%) [5]. Theo Cunningham F.G thì ối vỡ sớm góp phần vào 52% các nguyên nhân mổ lấy thai [9]. Do đó, ối vỡ sớm là yếu tố làm tăng nguy cơ mổ lấy thai. Sự khác biệt này có thể là do hiện tại, chỉ định mổ lấy thai trên lâm sàng ngày càng rộng, hơn nữa có một bộ phận các sản phụ chủ động chọn phương pháp mổ lấy thai để kết thúc thai kỳ.

3.11. Tình trạng trẻ sơ sinh sau sanh đánh giá theo chỉ số Apgar

Chỉ số Apgar

Bình thường

207

96,73%

Bất thường

7

3,27%

          Nhận xét:  

          Trong trường hợp ối vỡ sớm, có 3,27% số trẻ có chỉ số Apgar bất thường, 96,73% có chỉ số Apgar bình thường. 

3.12. Liên quan giữa kết quả trẻ sơ sinh với ối vỡ sớm 

 Tình trạng ối

 

Kết quả trẻ

Ối còn

(n, %)

Ối vỡ sớm

(n, %)

χ2

p

OR

95% CI

Tốt 

1043 (99,05)

207 (96,73)

9,80

0,002

1

-

Không tốt

10 (0,95)

7 (3,27)

4,03

1,57-10,35

 

          Nhận xét: Ối vỡ sớm làm tăng kết quả trẻ sơ sinh không tốt lên 4,03 lần so với ối còn, p<0,01.

          Có sự liên quan giữa ối vỡ sớm và kết quả trẻ sơ sinh, p<0,01. Nguy cơ trẻ sơ sinh bất thường tăng 4,03 lần trong trường hợp ối vỡ sớm. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Hou L., Wang X. và cộng sự, các nghiên cứu này ghi nhận ối vỡ sớm làm tăng tỉ lệ nhiễm trùng sơ sinh và kết quả chu sinh bất lợi hơn so với màng ối còn nguyên vẹn. Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Trúc Thanh, Lâm Đức Tâm và của Cammu H. với tỉ lệ Apgar bất thường là từ 1,45%-4,7%.

          Kết hợp với tuổi thai, chúng tôi thấy rằng tỉ lệ trẻ sinh non tháng ở nhóm sản phụ có ối vỡ sớm chiếm tỉ lệ cao. Theo nghiên cứu của Morris J.M. và cộng sự ghi nhận, trong các trường hợp ối vỡ sớm ở thai kỳ non tháng, các trẻ sơ sinh sinh ra trong nhóm các sản phụ được theo dõi sinh ngay có tỉ lệ suy hô hấp cao hơn, 8% so với 5% ở nhóm các sản phụ được điều trị bảo tồn . Điều này cho thấy việc điều trị bảo tồn để cố gắng kéo dài thai kỳ ở các sản phụ có ối vỡ sớm mà thai còn non tháng cần được quan tâm hơn nữa.

3.12. Tình trạng mẹ sau sinh trong trường hợp ối vỡ sớm


 

          Liên quan giữa tình trạng mẹ sau sinh với ối vỡ sớm

Tình trạng ối

Tình trạng mẹ

Ối còn

(n, %)

Ối vỡ sớm

(n, %)

χ2

p

OR

95% CI

Tốt

1048 (99,53)

211 (98,60)

2,41 0,120

1

-

Không tốt

5 (0,47)

3 (1,40)

2,97

0,70-12,52

          Biểu đồ ghi nhận tình trạng mẹ sau sinh có ối vỡ là  98,60% tốt, 1,40% không tốt. Tỉ lệ tình trạng mẹ sau sinh không tốt trong trường hợp ối vỡ sớm không khác biệt so với nhóm ối còn. Điều này cho thấy công việc theo dõi và khống chế nhiễm khuẩn ở các sản phụ có ối vỡ sớm đã được quan tâm và thực hiện có hiệu quả. Kết quả này rất tốt và cần được phát huy vì theo các y văn và các nghiên cứu trước ghi nhận tình trạng mẹ sau sinh trong trường hợp ối vỡ sớm thường diễn tiến bất lợi hơn so với các sản phụ không có ối vỡ sớm [8], [11]. Theo nghiên cứu của Hou L., Wang X. và cộng sự ghi nhận tình trạng mẹ sau sinh ở nhóm sản phụ có ối vỡ sớm bất lợi hơn so với màng ối còn nguyên vẹn [10].

4. KẾT LUẬN: 

          Qua khảo sát 214 trường hợp ối vỡ sớm trong tổng số 1267 sản phụ vào sinh tại khoa sản Bệnh viện Quân Y 121 chúng tôi rút ra một số kết luận. 

          Tỉ lệ ối vỡ sớm là 16,89%. Thời gian ối vỡ đến khi nhập viện trung bình là 180,49±101,46 phút, thời gian ối vỡ đến lúc sinh trung bình là 658,81±329,21 phút, thời gian ối vỡ đến lúc sinh ≥24 giờ chiếm 3,41%.

          Tỉ lệ mổ lấy thai trong ối vỡ sớm chiếm tỉ lệ 65,42 %, tình trạng bé sau sinh bình thường chiếm 96,73%

          Có sự liên quan giữa ối vỡ sớm với, nghề nghiệp, tiền thai, tiền căn sản khoa, ngôi thai, phương pháp kết thúc thai kỳ, tình trạng của bé sau sanh

          Tóm lại, với tỉ lệ 16,89%, ối vỡ sớm là một tai biến thường gặp trong thai kỳ. Các trường hợp ối vỡ sớm thường nhập viện khá muộn, đa số là sau 1 giờ và trung bình khoảng 3 giờ. Qua nghiên cứu chúng tôi ghi nhận ối vỡ sớm có nhiều nguy cơ cho cả mẹ và thai như tăng nguy cơ nhiễm trùng, tăng tỉ lệ mổ lấy thai,... từ đó dẫn đến tăng thời gian nằm viện và nguy cơ sử dụng kháng sinh liều cao kéo dài. Do đó, việc phát hiện ối vỡ sớm là nhiệm vụ quan trọng trong công tác khám thai, quản lý thai nghén và trong theo dõi, xử trí cuộc chuyển dạ, đặc biệt ở những sản phụ có các yếu tố nguy cơ như làm công việc nặng nhọc, có tiền sử sẩy thai, nạo phá thai, mang thai lần đầu, ngôi thai bất thường,... Khi phát hiện được có ối vỡ sớm các bác sĩ lâm sàng cần có thái độ xử trí phù hợp cho thai phụ, nhằm giảm các nguy cơ có thể xảy ra cho mẹ và thai, góp phần chăm sóc thai phụ và trẻ sơ sinh tốt hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngô Thị Kim Phụng (2011), “Ối vỡ non - Ối vỡ sớm”, Sản phụ khoa, 1, Nhà Xuất bản Y học. Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, tr. 321-324.

2. Nguyễn Duy Tài (2011), “Định tuổi thai”, Sản phụ khoa, 1, Nhà Xuất bản Y học, Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, tr. 370-378.

3. Nguyễn Duy Tài, Trần Sơn Thạch (2006), “Xử trí ối vỡ non trên thai non tháng”, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 10(1) tr.122-127.

4. Cửu Nguyễn Thiên Thanh, Võ Minh Tuấn (2009), “Hậu quả thai kỳ của ối vỡ non, vỡ sớm ở tuổi thai từ 28 đến 34 và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Từ Dũ”, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 13(1) tr. 98-103.

5. Đỗ Thị Trúc Thanh, Lâm Đức Tâm (2011), “Vỡ màng ối sớm, một số yếu tố liên quan và kết quả thai kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ”, Tập san nghiên cứu khoa học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, 4, tr. 75-82.

6.aAllahyar Jazayeri, Francisco Talavera, Carl V. Smith (2015), “Premature Rupture of Membranes”, Medscape, drugs and diseases.

7. Anjna D., Reddi R. (1996), “Premature rupture of membranes. A clinical study”, Obstet Gynecol, 46, pp. 63-76.

8.iCammu H., Verlcnen H., Derde M. (1990), “Premture rupture of membranes  at term in nulliparous women: a hazard”, Obstetrics and Gynecology, 76(4), pp. 671-674.

9.iCunningham F.G., Leveno K.J., Bloom S.L., Spong C.Y., Dashe J.S., Hoffman B.L., Casey B.M., Sheffield J.S. (2014), “Fetal therapy”, Williams Obstetrics, 24, McGraw- Hill Company, pp. 321-334.

10.iHou L., Wang X., Zou L.Y., Ruan Y., Chen Y., Li G.H., Zhang W.Y. (2016), “Mode of delivery and perinatal outcomes in women with premature rupture of membranes at term”, Zhonghua Yi Xue Za Zhi, 96(13).

11. Richa Saxena, (2015), “Preterm labor, PROM”, A Practical Guide to Obstetrics & Gynecology 2015, pp. 133-138.

Trần Thị Trúc Vân và cộng sự

TƯ VẤN KHÁM BỆNH
CẤP CỨU NGOẠI VIỆN

CÁC BÀI LIÊN QUAN

2019 @ Bệnh viện Quân y 121 - Giấy phép số 1612/QĐ-CT ngày 11/8/2015 của Tổng cục Chính trị